Chủ Nhật, Tháng 4 5, 2026
Trang Chủ Bài viêtĐầu Tư Điều kiện đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ bưu chính, viễn thông

Điều kiện đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ bưu chính, viễn thông

bởi admin
0 bình luận

A. Căn cứ pháp lý:

Một số Hiệp định, pháp luật liên quan:

  • Biểu cam kết gia nhập WTO của Việt Nam;
  • Hiệp định Khung về Dịch vụ ASEAN (AFAS);
  • Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA)
  • Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA).
  • Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA);
  • Luật đầu tư năm 2020;
  • Các văn bản pháp luật liên quan.

B. Quy định cụ thể:

Điều kiện đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ bưu chính, viễn thông

TT NGÀNH, PHÂN NGÀNH ĐIỀU KIỆN HẠN CHẾ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CĂN CỨ PHÁP LÝ
5 Dịch vụ bưu chính, viễn thông    
5.1 Các dịch vụ bưu chính (CPC 7511)

Các dịch vụ chuyển phát (CPC 7512)

1. WTO, AFAS, VJEPA, VKFTA, CPTPP:

Việt Nam chỉ có quy định đối với dịch vụ chuyển phát (CPC 7512**):  không hạn chế.

* Dịch vụ chuyển phát nhanh[1], tức là dịch vụ gồm thu gom chia chọn, vận chuyển và phát trong nước hoặc quốc tế:

(a) Thông tin dưới dạng văn bản[2], thể hiện trên bất kỳ hình thức vật lý nào, bao gồm cả:

– Dịch vụ có lai ghép (hybrid mail service);

– Thông tin quảng cáo trực tiếp (direct mail).

Trừ việc xử lý các vật gửi là thông tin dưới dạng văn bản có giá cước dịch vụ thấp hơn 10 lần giá cước của một bức thư tiêu chuẩn gửi trong nước ở nấc khối lượng đầu tiên 9 Đôla Mỹ quốc tế; với điều kiện tổng khối lượng của các vật phẩm này không quá 2000 gam.

(b) Kiện[3] và các hàng hóa khác.

* Xử lý các vật phẩm không ghi địa chỉ người nhận (non-addressed items).

Dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các Thành viên sẽ được dành cho sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho Bưu chính Việt Nam hoặc các công ty con của Bưu chính Việt Nam đối với các hoạt động cạnh tranh.

2. EVFTA:

Phụ lục 8-B: Dịch vụ bưu chính (CPC7511** và 7512**) (Ngoại trừ các dịch vụ công cộng và dịch vụ dành riêng) là không hạn chế.

Dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các Thành viên sẽ được dành cho sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho Bưu chính Việt Nam hoặc các công ty con của Bưu chính Việt Nam đối với các hoạt động cạnh tranh.

–  WTO, AFAS, VJEPA, VKFTA, EVFTA, CPTPP

–  Luật Bưu chính năm 2010.

–  Nghị định số 47/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số nội dung của Luật Bưu chính.

5.2 Dịch vụ viễn thông, bao gồm:

1. Dịch vụ viễn thông cơ bản

(a) Các dịch vụ thoại (CPC 7521)

(b) Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói (CPC 7523**)

(c) Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh (CPC 7523**)

(d) Dịch vụ Telex (CPC 7523**)

(e) Dịch vụ Telegraph (CPC 7523**)

(f) Dịch vụ Facsimile (CPC 7521** + 7529**)

(g) Dịch vụ thuê kênh riêng (CPC 7522** + 7523**)

(o*) Các dịch vụ khác:

– Dịch vụ hội nghị truyền hình (CPC 75292):

– Dịch vụ truyền dẫn tín hiệu video trừ truyền quảng bá[4]

– Các dịch vụ thông tin vô tuyến, bao gồm: Dịch vụ thoại di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); Dịch vụ số liệu di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); Dịch vụ nhắn tin; Dịch vụ PCS; Dịch vụ trung kế vô tuyến.

– Dịch vụ kết nối Internet (IXP)[5]

– Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN).[6]

2. Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng

(h) Thư điện tử (CPC 7523 **)

(i) Thư thoại (CPC 7523 **)

(j) Thông tin trực tuyến và truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu (CPC 7523**)

(k) Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) (CPC 7523**)

(l) Các dịch vụ facsimile gia tăng giá trị, bao gồm lưu trữ và chuyển, lưu trữ và khôi phục (CPC 7523**)

(m) Chuyển đổi mã và giao thức

(n) Thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu (bao gồm xử lý giao dịch) (CPC 843**)

(o) Dịch vụ truy cập Internet (IAS)[7].

 

1. WTO, AFAS, VJEPA, VKFTA, EVFTAquy định:

Các cam kết dưới đây phù hợp với “Thông báo về việc đưa ra các cam kết về dịch vụ viễn thông cơ bản” (S/GBT/W/2/REV.1) và “Thông báo về Hạn chế tiếp cận thị trường liên quan đến độ khả dụng của phổ tần” (S/GBT/W/3)”. Để phục vụ các cam kết này, một “nhà cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng” có nghĩa là nhà cung cấp không sở hữu dung lượng truyền dẫn nhưng hợp đồng thuê dung lượng từ nhà khai thác, sở hữu dung lượng đó, bao gồm cả dung lượng cáp quang biển, kể cả trên cơ sở dài hạn. Một nhà cung cấp không có hạ tầng mạng được phép sở hữu các trang thiết bị viễn thông trong phạm vi trụ sở hoạt động của mình và tại các điểm cung cấp dịch vụ công cộng được cho phép (POP).

1.1. WTO, VKFTA, VJEPA:

Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bảnKhông hạn chế, ngoại trừ

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

Đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN):Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ giá trị gia tăng: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

1.2. AFAS

Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 75%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

Đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN): Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do lựa chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ giá trị gia tăng: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

1.3. EVFTA:

Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 75%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

Đối với dịch vụ mạng riêng ảo (VPN): Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh và tự do chọn đối tác. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 70% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 75%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.

Đối với dịch vụ giá trị gia tăng: Không hạn chế, ngoại trừ:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 100%.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Cho phép hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, hạn chế về vốn góp được nâng lên 65%.

51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.

Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.

2. CPTPP: 

a) Phụ lục NCM I-VN-7 Dịch vụ viễn thông: Dịch vụ cơ bản, Dịch vụ giá trị gia tăng

Dịch vụ xuyên biên giới

– Dịch vụ viễn thông vệ tinh: Các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài không được phép cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh trừ khi dịch vụ được cung cấp thông qua thỏa thuận thương mại với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh quốc tế Việt Nam được cấp phép, ngoại trừ dịch vụ viễn thông vệ tinh cung cấp cho các khách hàng kinh doanh ngoài biển, các cơ quan chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng, các đài phát thanh và truyền hình, các văn phòng đại diện chính thức của các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự, các khu phát triển phần mềm và khu công nghệ cao và các công ty đa quốc gia[8] đã được cấp phép sử dụng trạm vệ tinh mặt đất.

Đầu tư:

– Các dịch vụ không có hạ tầng mạng[9]:

Dịch vụ cơ bản và giá trị gia tăng: không được đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ không có hạ tầng mạng trừ khi thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 65%, hoặc 70% trong trường hợp mạng ảo riêng. Sau không quá 5 năm kể từ khi Hiệp định TPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ xóa bỏ các hạn chế về tỷ lệ góp vốn của nước ngoài và yêu cầu liên doanh.

– Các dịch vụ có hạ tầng mạng:

Dịch vụ cơ bản: không được đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ có hạ tầng mạng ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam đã được cấp phép, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 49%.

+ Dịch vụ giá trị gia tăng: không được đầu tư nước ngoài để cung cấp các dịch vụ có hạ tầng mạng ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam đã được cấp phép, với phần vốn góp của bên nước ngoài không vượt quá 51%. Sau không quá 5 năm kể từ khi Hiệp định TPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ nâng hạn chế vốn góp của nước ngoài lên 65%.

Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép sở hữu đến 100% dung lượng truyền phát cáp quang biển cập bờ tại trạm cáp quang biển được cấp ở Việt Nam, và có thể bán dung lượng đó cho bất kỳ nhà mạng viễn thông được cấp phép nào ở Việt Nam, bao gồm cả các nhà cung cấp dịch vụ internet, ở Việt Nam.

b) Phụ lục NCM II-VN-13: Dịch vụ viễn thông

Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng và duy trì bất kỳ biện pháp nào liên quan đến đầu tư, xây dựng, vận hành và khai thác các mạng và dịch vụ viễn thông phục vụ các tộc người thiểu số ở vùng nông thôn và hẻo lánh ở Việt Nam.

3. Pháp luật Việt Nam

a) Nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thức liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh để cung cấp dịch viễn thông cơ bản. Riêng đối với cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, đối tác Việt Nam phải là doanh nghiệp viễn thông đã được cấp giấy phép thiết lập mạng viễn thông tại Việt Nam.

b) Một tổ chức, cá nhân đã sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp viễn thông thì không được sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thông khác cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông thuộc Danh mục dịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.

c) Điều kiện về vốn pháp định và mức cam kết đầu tư quy định tại các Điều 19, 20, 21 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP.

–  WTO, AFAS, VJEPA, VKFTA, EVFTA, CPTPP

–  Luật An toàn thông tin mạng năm 2015

–  Luật viễn thông năm 2009

–  Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông.

–  Nghị định số 81/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định chi Tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật viễn thông.

Theo: https://vietnaminvest.gov.vn/

You may also like

Giới Thiệu

Luật Nam Dương có đội ngũ luật sư, chuyên viên trình độ cao, chuyên môn giỏi, giàu kinh nghiệm, làm việc có trách nhiệm và uy tín.

Bài Viết Nổi Bật

Đăng ký bản tin

Đăng ký bản tin của chúng tôi để biết các bài đăng mới. Hãy luôn cập nhật!

zalo-icon Liên Hệ Zalo Số: 0984 999 597